bài thơ chiều hôm nhớ nhà
Bài thơ “ Chiều hôm nhớ nhà” được Bà Huyện Thanh Quan viết theo bút pháp tả cảnh gợi tình quen thuộc trong thơ cổ điển. Từng hình ảnh , từng âm thanh đều gợi đến tâm trạng nhớ nhà của nữ sĩ.
Bài Chiều hôm nhớ nhà là như vậy. Nhan đề bài thơ có nơi chép là Cảnh chiều hôm rõ là không sát. Ông Hư Chu và ông Quách Tấn chê nhan để Chiều hôm nhớ nhà cũng không sát, vì theo ông Quách Tấn hai chủ đề của bài thơ là 'giữa đường xa' và 'ngày sắp hết' (Thi pháp thơ
Chiều hôm nhớ nhà – Bà huyện Thanh Quan Phân tích bài Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan. Ai đã từng đọc "Truyện Kiều" chắc không thể nào quên được câu thơ của Nguyễn Du nói về hoàng hôn:"Sông sa vò võ phương trời,Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng".
CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ (Bà huyện Thanh Quan)Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,Tiếng ốc xa đưa lẩn trống đồn.Gác mái, ngư ông về viễn phố,Gõ sừng, mục
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?". "Chiều hôm nhớ nhà" và "Qua Đèo Ngang" hai kiệt tác thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Đó là chùm thơ của Bà Huyện Thanh Quan sáng tác trong những tháng ngày nữ sĩ trên đường thiên lí vào Kinh đô Huế nhận chức nữ quan trong triều Nguyễn. Có thể
Tchat Rencontre En Ligne Gratuit Sans Inscription. Chiều Hôm Nhớ Nhà Bà Huyện Thanh Quan Vàng toả non tây, bóng ác tà, Đầm đầm ngọn cỏ, tuyết phun hoa. Ngàn mai lác đác, chim về tổ, Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà. Còi mục thét trăng miền khoáng dã, Chài ngư tung gió bãi bình sa. Lòng quê một bước nhường ngao ngán, Mấy kẻ tình chung có thấu là? Tiêu đề trong Văn đàn bảo giám chép là Nhớ nhà. Nguồn 1. Dương Quảng Hàm, Việt Nam thi văn hợp tuyển, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Hà Nội, 1951 2. Nguyễn Tường Phượng, Phan Văn Sách, Bùi Hữu Sủng, Việt văn diễn giảng hậu bán thế kỷ thứ XIX, Trường Nguyễn Khuyến xuất bản, Hà Nội, 1953 3. Trần Trung Viên, Văn đàn bảo giám, NXB Văn học, 2004 Bài thơ “Chiều Hôm Nhớ Nhà” trong nhiều tác phẩm thơ ca, tập thơ của Bà Huyện Thanh Quan. Thuộc danh mục thơ Nguyễn Thị Hinh một trong những Nhà Thơ Việt Nam Vĩ Đại Và Tiêu Biểu . Hãy cùng đọc và thưởng thức nhiều tác phẩm thơ ca khác, có rất nhiều bài thơ hay đang chờ các bạn!
Chiều Hôm Nhớ Nhà ❤️️ Nội Dung Bài Thơ, Nghệ Thuật, Phân Tích ✅ Gợi Ý Cách Đọc Hiểu Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà, Tìm Hiểu Ý Nghĩa Tác Phẩm. Nội Dung Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Của Bà Huyện Thanh QuanHoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ NhàÝ Nghĩa Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ NhàĐọc Hiểu Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ NhàNghệ Thuật Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Của Bà Huyện Thanh Quan5 Mẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Hay NhấtMẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà HayMẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Ngắn HayMẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Chọn LọcMẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Tiêu BiểuMẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Hay Sâu Sắc Nội Dung Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Của Bà Huyện Thanh Quan Khi nhắc đến các thi sĩ quen thuộc với độc giả trong nền văn học xưa, người ta vẫn thường nhắc tới Hồ Xuân Hương hay Bà huyện Thanh Quan. Ngoài tác phẩm “Qua đèo Ngang” thì bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà” cũng là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của nữ sĩ Bà huyện Thanh Quan. Chiều hôm nhớ nhàTác giả Bà Huyện Thanh Quan Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mai gió cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương sa khách bước chốn Chương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn. Đọc thêm tác phẩm 🔰Qua Đèo Ngang🔰Nội Dung, Nghệ Thuật Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Về hoàn cảnh sáng tác bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan thì theo một số ghi chép như sau Dưới triều Tự Đức, Bà Huyện Thanh Quan được mời về kinh nhậm chức Cung trung giáo tập để dạy các công chúa, cung phi. Sống trong cung đình nhưng bà tự coi mình như kẻ “lữ thứ”, tấm lòng của bà luôn luôn hướng về chốn “Chương Đài”. Và bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà” được bà viết nên trong thời gian ấy. Về bối cảnh thì bài thơ được viết trong bối cảnh buổi chiều tà khi bóng hoàng hôn buông xuống. Khung cảnh được miêu tả với bóng chiều bảng lảng cùng tiếng trống dồn đầu làng báo hiệu mọi người hãy nghỉ tay đã đến giờ cơm chiều. Đúng với tên gọi, bài thơ Chiều hôm nhớ nhà là một áng văn đậm ân tình và cảm xúc của tác giả đối với quê hương của mình. Bà viết bài thơ để bày tỏ nỗi lòng, tâm sự thương nhà, nhớ quê. Đồng thời thi phẩm cũng thể hiện sự chán chường của nữ thi sĩ với triều đại hiện tại, lòng bà chỉ hướng về ánh hào quang của quá khứ. Đọc hiểu bài thơ🌿Thăng Long Thành Hoài Cổ🌿 Nội Dung, Ý Nghĩa Đọc Hiểu Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Hướng dẫn trả lời các câu hỏi đọc hiểu trong bài thơ Chiều hôm nhớ nhà. 👉Câu 1 Bài thơ được viết theo thể thơ nào? ngôn tứ tuyệt Đường luật B. Thất ngôn bát cú Đường luật C. Ngũ ngôn D. Lục bát 👉Câu 2 Bài thơ được gieo vần gì? lưng B. Vần chân C. Vần liền D. Vần cách 👉Câu 3 Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì? A. Vui mừng, phấn khởi B. Xót xa, sầu tủi C. Buồn, ngậm ngùi D. Cả ba phương án trên 👉Câu 4 Bài thơ sử dụng những phương thức biểu đạt nào A. Nghị luận kết hợp biểu cảm B. Biểu cảm kết hợp tự sự C. Miêu tả kết hợp tự sự D. Biểu cảm kết hợp miêu tả 👉Câu 5 Nội dung của bài thơ là gì? A. Tâm sầu thương tê tái của người lữ khách xa quê, nhớ nhà, nhớ quê B. Tâm trạng hân hoan, vui sướng khi nhớ về quê nhà C. Nhớ tiếc một thời vàng son của Thăng Long,của đất nước D. Hoài niệm về những tàn dư thủa trước 👉Câu 6 Nhận định nào sau đây đúng nhất về thơ của Bà Huyện Thanh Quan? nhã, đậm chất bác học và mang niềm hoài cổ. B. Trẻ trung, mạnh mẽ đầy hơi thở dân gian. C. Ngôn ngữ bình dị, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày. D. Trang nhã, đậm chất bác học. 👉Câu 7 Em có nhận xét gì về nghệ thuật đặc sắc của bài thơ Chiều hôm nhớ nhà? A. Kết cấu bài thơ phù hợp với tâm trạng chủ thể trữ tình B. Thủ pháp nghệ thuật phóng đại được sử dụng hiệu quả C. Lời thơ trang nhã, sử dựng nhiều từ Hán Việt, giọng thơ man mác, hoài cổ D. Ngôn ngữ thơ Nôm bình dị, hình ảnh gợi cảm, giàu màu sắc, nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc 👉Câu 8 Căn cứ vào nội dung bài thơ cho thấy rõ nhất điều gì ở nhân vật trữ tình? A. Lòng tự trọng B. Yêu nhà, yêu quê hương C. Sự hoài cổ D. Cả ba ý trên 👉Câu 9 Việc sử dụng nhiều từ Hán Việt mang lại giá trị lớn cho bài thơ. Hãy phân tích điều đó qua đoạn văn 5 – 7 dòng. Đáp án Giá trị của việc sử dụng từ Hán Việt trong bài thơ Yếu tố từ Hán Việt trong hai bài thơ đã thực sự mang lại cho người đọc một sự cảm nhận tinh tế về tình cảm, nỗi niềm, tài năng và nhân cách của bà Huyện Thanh Quan. Điều đáng nói ở đây không phải là sự xuất hiện nhiều từ Hán Việt trong bài thơ một cách điêu luyện đã làm nên giá trị nghệ thuật đích thực cho toàn thi phẩm, gợi cho thi phẩm vẻ đẹp của sự tao nhã, đài các, thanh cao. 👉Câu 10 Từ nội dung của bài thơ, em hãy nêu rõ vai trò của quê hương đối với mỗi người. Trả lời khoảng 5-7 dòng. Đáp án Quê hương chính là nơi chôn nhau cắt rốn của ta, là nơi nuôi ta lớn lên với biết bao kỉ niệm chẳng thể phai nhòa. Quê hương dạy ta biết lớn khôn và trưởng thành dần từ những ngây thơ, vụng dại của ngày bé. Quê hương cho ta những năm tháng tuổi thơ tuyệt vời mà suốt hành hình trình trưởng thành ta không bao giờ tìm lại được. Quê hương ấy, những con người quen thuộc ấy sẽ theo dấu chân ta trên suốt quãng đời của mình và rồi trở thành dòng suối mát lành tắm mát và gột rửa tâm hồn ta trước những muộn phiền, lo toan của cuộc sống. Đừng bỏ lỡ 🔰Bài Thơ Mời Trầu Của Hồ Xuân Hương🔰 Nội Dung, Phân Tích Nghệ Thuật Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Của Bà Huyện Thanh Quan Chia sẻ các giá trị nghệ thuật trong bài Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ được làm theo thể thơ Đường luật mầu mực, phong vị cổ điển, lời ít ý nhiều. Ngôn ngữ thơ điêu luyện, chắt lọc… Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình với ngôn ngữ tinh tế mà đượm buồn. Sử dụng điển cổ Chương Đài để thể hiện sự mong mỏi xa cách giữa tác giả và người thân, quê hương gia đình. 5 Mẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Hay Nhất Tiếp theo là 5 mẫu văn phân tích bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan hay nhất, cùng đón đọc nhé! Mẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Hay Trong làng thơ Việt Nam, có những nữ sĩ để lại cho thơ ca dân tộc những dấu ấn đẹp. Nếu thơ Hồ Xuân Hương tài ba, ngạo mạn thì thơ bà Huyện Thanh Quan lại trang nhã, trữ tình và duyên dáng. Đọc thơ bà, ta thấy nỗi buồn man mác, tâm trạng hoài cổ thật thanh cao đượm sự cô đơn, trống vắng. Một trong những bài thơ đó là tác phẩm Chiều hôm nhớ nhà. Tìm hiểu bài thơ ta sẽ thấy tài thơ điêu luyện của Bà Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Gác mái, ngư ông về viễn phố Gõ sừng, mục tử lại cô thôn Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồnKẻ chốn Chương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn Ở hai câu đề, khoảng thời gian là trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn. Ánh sáng vẫn còn đó, nhưng chỉ còn là ánh lờ mờ của ngày tàn và đêm sắp tới. Câu thơ chỉ giới thiệu thời gian mà người đọc như cảm thấy cả không gian một vùng quê rộng lớn. Trước thiên nhiên ấy, giữa trời và đất, có một cái gì đó tràn ngập con người nhạy cảm. Buổi chiều là thời gian dễ buồn nhất và đó cũng là khoảng thời gian thường xuất hiện trong thơ của bà Huyện Thanh Quan. Con người trong cuộc sống hỗn độn, ồn ào vẫn có một lúc nào đó trở về với cái bình yên muôn thuở của thiên nhiên, về với chính lòng mình. Và lúc này chính là khoảnh khắc đó của nữ sĩ. Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Âm thanh từ xa vẳng đến như thúc giục, nhưng vẫn có cái trầm lặng trong đó báo hiệu cho mọi người ngày sắp hết. Ta như gặp một nét thân quen, man mác của câu ca dao Chiều chiều ra đứng ngõ sauNgó về quê mẹ ruột đau chín chiều. Tâm trạng của tác giả đã phần nào được ngầm hiểu trong cách lựa chọn thời gian, không khí và thanh âm. Trong cảnh chiều, trong tiếng gọi tàn ngày đó, con người hiện ra Gác mái, ngư ông về viễn phốGõ sừng, mục tử lại cô thôn. Câu thơ với nhịp 2/5 làm cho ta có cảm giác hoạt động con người đang giảm dần, đang đi tới kết thúc. Phép đối rất chuẩn cùng với những từ Hán Việt đã góp phần tạo nên vẻ trang nhã, cổ kính của hai câu thơ gợi tả này. Trước cảnh thiên nhiên to lớn, con người thật nhỏ, yếu thế và có phần đơn độc. Đó cũng là đặc điểm của thơ Thanh Quan. Gặp cảnh và người ở đây ta không thể không liên tưởng đến cảnh và người. Lom khom dưới núi, tiều vài chúLác đác bên sông, chợ mấy nhà Trong Qua đèo Ngang của cùng tác giả, cảnh và người đều vậy lặng lẽ, đượm buồn. Ta có cảm giác nhà thơ cũng đang lặng lẽ, thẩn thờ. Và con đường trước mắt bà thì sao, hai câu luận đã vẽ ra khung cảnh Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương sa khách bước dồn Khoảng đường trước mắt như vô tận. Chim bay mỏi mà chưa tới nơi, khách bước dồn mà chưa tới chốn. Con đường đi hay con đường đời đang dàn trải? Phép đối từng cặp hình ảnh ngàn mây dặm liễu, gió cuốn – sương sa, chim bay mỏi – khách bước dồn làm ý thêm nhấn mạnh. Những từ ngữ bước dồn, bay mỏi cho thấy tâm trạng chán chường, mỏi mệt của nhà thơ. Tâm trạng ấy tất dẫn đến hai câu thơ kết thúc Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn Không có ai để tâm sự, trời đất thì bao la, vắng lặng, trống trải, khiến tác giả quay về với nội tâm, với lòng buồn sẵn có của mình. Câu thơ cuối, vừa như một câu cảm, vừa như một câu hỏi. Ta đã từng bắt gặp những câu thơ tài ba đó trong thơ bà Dừng chân đứng lại, trời non nướcMột mảnh tình riêng, ta với taQua đèo Ngang Và Cảnh đấy, người đây luống đoạn trườngThăng Long hoài cổ Qua đó, ta càng hiểu được nỗi niềm tâm sự của tác giả. Mang tiếng nói của tầng lớp quý tộc phong kiến đang trên đường suy thoái, thơ Thanh Quan biểu hiện một khía cạnh tư tưởng của văn chương thế kỉ 18 – 19, phản ánh tâm tư của lớp nho sĩ chán nản bế tắc. Tiếng thơ đó cũng biểu hiện tâm trạng hoài cổ, thiết tha nhớ nhà Lê đã suy vi. Phải chăng đó cũng là tâm tình của chế độ phong kiến đã hết thời vàng son, hết vai trò lịch sử? Đặt bài thơ của nữ sĩ vào bối cảnh lịch sử như thế, ta có biểu hiện sâu thêm cái buồn trong lòng bà cái buồn thời đại. Thơ bà buồn, nhưng không vì thế mà mất vẻ đẹp gợi cảm. Trái lại, nhờ vậy càng tăng thêm phần đặc sắc. Thơ bà đẹp một cách trầm lặng như chính tâm hồn bà. Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan mãi mãi đưa đến cho chúng ta những cảm xúc chân thành, đậm đà trước nét buồn thanh tao, đưa đến những suy nghĩa sâu xa hơn về con người và xã hội. Một bài thơ đóng lại nhưng còn mở ra, tạo nên một dư âm trong lòng người đọc. Mẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Ngắn Hay Bước vào làng văn học Việt Nam ta bắt gặp một nữ sĩ với những vần thơ trang nhã cổ điển, ấy chính là Bà Huyện Thanh Quan với bài thơ Qua Đèo Ngang và Chiều hôm nhớ nhà. Cả hai bài thơ này được làm theo thể thơ Đường luật mầu mực, phong vị cổ điển, lời ít ý nhiều. Chính nhờ điều này mà hai bài thơ sông mãi với thời gian. Thi pháp cổ điển ấy chính là văn chương bác học, dùng nhiều điển cố, điển tích, ngôn ngữ thơ điêu luyện, chắt lọc… Trong hai bài thơ trên của Bà Huyện Thanh Quan thể hiện rõ vấn đề này. Trước hết, điểm nổi bật trong thơ của Bà Huyện Thanh Quan là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình với ngôn ngữ tinh tế mà đượm buồn. Cả hai bài thơ ta đều bắt gặp một khung cảnh gợi buồn, gợi nhớ nhất trong một ngày. Cảnh Đèo Ngang trong lúc xế bóng vắng vẻ hoang sơ Bước tới Đèo Ngang bóng xế tàQua Đèo Ngang Còn trời chiều trong bài thơ Chiều hôm nhớ nhà Trời chiều băng lảng bóng hoàng hônChiều hôm nhớ nhà Đối diện với khung cảnh này thì những người hời hợt lắm cũng phải buồn chứ không nói gì đến người giàu cảm xúc như nữ sĩ. Nếu như trong bài Qua Đèo Ngang tín hiệu nghệ thuật đầu tiên mà tác giả sử dụng là bóng xế tà thì bài thơ Chiều hôm nhớ nhà cũng đồng thời là bóng hoàng hôn. Thơ xưa khi nói về tâm sự, nỗi buồn người ta thường mượn cảnh đế ký thác đặc biệt là hình ảnh bóng chiều. Buổi chiều gợi cho ta cảm giác nhớ nhà, nhớ gia đình người thân. Đặc biệt đây lại là tâm trạng của kẻ lữ thứ xa quê, trên đỉnh đèo Ngang chỉ có Cỏ cây chen đá, lá chen hoa thì ở Chiều hôm nhớ nhà cũng hoang vắng đến lạnh lùng Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Đây là âm thanh rõ nhất khiến ta cảm giác đầy đủ nhất. Ta nghe thấy tiêng ốc nhưng lại xa đưa, lúc khoan lúc nhặt nghe thật buồn tẻ. Cái âm thanh đó chỉ làm sâu hơn nỗi buồn của nhà thơ. Cả hai bài thơ tác giả chỉ thấy cuộn lên một nỗi buồn, nỗi buồn sâu thẳm mênh mông.. Xa chốn kinh kỳ ồn ã náo nhiệt vào làm quan ở Huế, lòng nữ sĩ có bao nỗi buồn chất chứa. Kinh thành Thăng Long nơi bà từng sông nó khác hẳn với cuộc sống nơi này – đèo Ngang. Hình ảnh con người trong hai bài thơ này chỉ thoáng bóng. Đó chính là những người dân lao động nghèo vất vả, lam lũ. Cuộc sống của họ thật tẻ nhạt, đơn sơ Lom khom dưới núi tiều vài chúLác đác bên sông chợ mấy nhàQua Đèo Ngang Và Gác mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônChiều hôm nhớ nhà Thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ nhuần nhị tạo nên một hình ảnh thưa thớt, vắng vẻ của cuộc sống con người nơi đây. Vì vậy Bà Huyện Thanh Quan không thể vui vẻ, càng không thể hững hờ trước cảnh buồn man mác đó. Nhưng nỗi niềm u hoài ấy là gì? Đó là nỗi niềm u uẩn trong lòng nữ sĩ. Bà nhớ về một thời xa xưa, dĩ vãng. Cái thời vàng son mà bà từng chứng kiến nó thật lộng lẫy tươi đẹp biết bao. Giờ đầy, trước cảnh vật, trong lòng nữ sĩ cháy bỏng lên một tâm sự nhớ nước, thương nhà sau tiếng kêu đều, khoan nhặt của chim quốc, gia gia. Nghệ thuật chơi chữ quốc là nước, gia là nhà. Tiếng quốc kêu hay chính lời non nước, tiếng cuốc kêu hay chính hồn Thục Đế. Sự đồng điệu trong âm thanh da diết không dứt ấy làm tâm hồn nhà thơ rộn lên, nao lên trong niềm nhớ nhà nhớ nước. Tiếng cuốc kêu như ứng với tiếng gọi tha thiết, mãnh liệt nhất trong tâm tư tình cảm của bà. Tiếng gọi gửi về đất nước? Tiếng gọi gửi về quê hương? Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏiRăm liễu sương sa khách bước dồnChiều hôm nhớ nhà Chiều xế bóng, mặt trời sắp tắt, bóng đêm dần bao phủ ngay cả những chú chim cũng đang tìm chốn ngủ, những bước chân lữ thứ tìm quán trọ qua đêm… Bà Huyện Thanh Quan nhớ lắm thương lắm muốn trở về, gặp lại quê hương, gặp lại người thân nhưng đành bất lực Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ônChiều hôm nhớ nhà Ở đây tác giả sử dụng điển cổ Chương Đài để thể hiện sự mong mỏi xa cách giữa tác giả và người thân, quê hương gia đình. Lấy ai để tâm sự, giãi bày nỗi hàn ôn. Và vì vậy đối diện với mây trời non nước Đèo Ngang nữ sĩ như gặp lại chính mình Dừng chân đứng lại, trời, non, nướcMột mảnh tinh riêng, ta với ta Mảnh tình riêng ấy là tâm sự cô đơn, bé nhỏ trước mây trời, sông nước. Bà và cảnh đã hoà làm một bởi có chung một tâm trạng. Cảnh bao la rộng lớn nhưng buồn bởi vì chủ thể trữ tình đang chất chứa một tâm trạng u hoài. Tâm sự chất chứa ấy lại bắt gặp chính nó ta với ta, mấy ai mà bầy tỏ, hàn huyên tâm sự. Cái cổ điển chính là mượn cảnh để tả tình, trong tình có cảnh. Vần thơ buồn nhớ, cô đơn đến vô cùng. Hai bài thơ trên là điển hình cho phong cách thơ Bà Huyện Thanh Quan. Chất cổ điển, trữ tình hoà quyện tạo nên thành công nổi bật cho hai bài thơ. Dẫu đã gấp trang sách lại chúng ta không thể nào quên những vần thơ trác tuyệt như vậy. Mẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Chọn Lọc Thơ của Bà Huyện Thanh Quan thấm một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ, hay nói đến hoàng hôn, lời thơ trang nhã, sử dụng nhiều từ Hán Việt bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông, viễn phố… tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính, nhạc điệu trầm bổng hấp dẫn. “Chiều hôm nhớ nhà” là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình thương nhớ, bâng khuâng. Ai đã từng đọc “Truyện Kiều” chắc không thể nào quên được câu thơ của Nguyễn Du nói về hoàng hôn “Sông sa vò võ phương trời,Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng”. Cũng nói về hoàng hôn và nỗi buồn của kẻ tha hương, bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan là một kiệt tác của nền thơ Nôm Việt Nam trong thế kỉ XIX Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mai gió cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương sa khách bước chốn Chương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn. Câu thơ đầu tả ánh hoàng hôn một buổi chiều viễn xứ. Hai chữ “bảng lảng” có giá trị tạo hình đặc sắc ánh sáng lờ mờ lúc sắp tối, mơ hồ gần xa, tạo cho bức tranh một buổi chiều thấm buồn “Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn”. Hai chữ “bảng lảng” là nhãn tự – như con mắt của câu thơ. Nguyễn Du cũng có lần viết “Trời tây bảng lảng bóng vàng” Truyện Kiều Chỉ qua một vần thơ, một câu thơ, một chữ thôi, người đọc cũng cảm nhận được ngòi bút thơ vô cùng điêu luyện của Bà Huyện Thanh Quan. Đối với người đi xa, khoảnh khắc hoàng hôn, buồn sao kể hết được? Nỗi buồn ấy lại được nhân lên khi tiếng ốc tù và cùng tiếng trống đồn “xa đưa vẳng” lại. Chiều dài tiếng ốc, chiều cao tiếng trống đồn trên chòi cao của không gian được diễn tả qua các hợp âm ấy, đã gieo vào lòng người lữ khách một nỗi buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái. Câu thơ vừa có ánh sáng bảng lảng vừa có âm thanh tiếng ốc, trống đồn tạo cho cảnh hoàng hôn miền đất lạ mang màu sắc dân dã Phần thực và phần luận, các thi liệu làm nên cốt cách bài thơ được chọn lựa tinh tế, biểu đạt một hồn thơ giàu cảm xúc. Ngư ông, mục tử, lữ khách… thế giới con người được nói đến. Cảnh vật thì có ngàn mai, có gió và sương, có “chim bay mỏi” … Những thi liệu ấy mang tính chất ước lệ của thi pháp cổ người thì có ngư, tiều; cảnh vật, cây cỏ, hoa lá thì có phong, sương, mai, liễu, cánh chim chiều… nhưng với tài sáng tạo vô song chọn từ, tạo hình ảnh, đối câu, đối từ, đối thanh, ở phương diện nào, nữ sĩ cũng tỏ rõ một hồn thơ tài hoa, một ngòi bút trang nhã. Vì thế cảnh vật trở nên gần gũi, thân thuộc với mọi con người Việt Nam. Cảnh vật mang hồn người đậm đà bản sắc dân tộc. Chiều tà, ngư ông cùng con thuyền nhẹ trôi theo dòng sông về viễn phố bến xa với tâm trạng của một “ngư ông” – ông chài nhàn hạ, thoải mái. Động từ “gác mái” biểu đạt một tâm thế nhàn của ngư ông đang sống ở miền quê, đã thoát vòng danh lợi “Gác mái, ngư ông về viễn phố”. Cùng lúc đó, lũ trẻ đưa trâu về chuồng, trở lại “cô thôn”, cử chỉ “gõ sừng” của mục đồng thật hồn nhiên, vô tư, yêu đời. “Gõ sừng mục tử lại cô thôn”. Đó là hai nét vẽ về con người, hai bức tranh tuyệt đẹp nơi thôn dã vô cùng thân thuộc đáng yêu. Hai câu luận tiếp theo mượn cảnh để tả cái lạnh lẽo, cô liêu, bơ vơ của người lữ khách trên nẻo đường tha hương nghìn dặm. Trời sắp tối. Ngàn mái xào xạc trong “gió cuốn”; gió mỗi lúc một mạnh. Cánh chim mỏi bay gấp về rừng tìm tổ. Sương sa mù mịt dặm liễu. Và trên con đường sương gió ấy, lạnh lẽo ấy chỉ có một người lữ khách, một mình một bóng đang “bước dồn” tìm nơi nghỉ trọ. Hai hình ảnh “chim bay mỏi” và “khách bước dồn” là hai nét vẽ đăng đôi, đặc tả sự mỏi mệt, cô đơn. Con người như bơ vơ, lạc lõng giữa ”gió cuốn” và “sương sa”, đang sống trong khoảnh khắc sầu cảm, buồn thương ghê gớm. Câu thơ để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Đảo ngữ làm nổi bật cái bao la của nẻo đường xa miền đất lạ “Ngàn mai, gió cuốn chim bay mỏi,Dặm liễu, sương sa khách bước dồn”. Bằng sự trải nghiệm của cuộc đời, đã sống những khoảnh khắc hoàng hôn ở nơi đất khách quê người, nữ sĩ mới viết được những câu thơ rất thực miêu tả cảnh ngộ lẻ loi của kẻ tha hương hay đến thế! Hai câu kết hội tụ, dồn nén lại tình thương nhớ. Nữ sĩ cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Câu thứ bảy gồm hai vế tiểu đối, lời thơ cân xứng đẹp “Kẻ chốn “Chương Đài người lữ thứ”. Chương Đài là điển tích nói về chuyện li biệt, nhớ thương, tan hợp của lứa đôi Hàn Hoành và Liễu thị đời nhà Hán xa xưa. Bà Huyện Thanh Quan đã vận dụng điển tích ấy một cách sáng tạo. “Chương Đài” và “lữ thứ” trong văn cảnh gợi ra một trường liên tưởng về nỗi buồn li biệt của khách đi xa nhớ nhà, nhớ quê hương da diết. Khép lại bài thơ là một tiếng than giãi bày một niềm tâm sự được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ. “Ai” là đại từ phiếm chỉ, nhưng ai cũng biết đó là chồng, con, những người thân thương của nữ sĩ. “Hàn ôn” là nóng lạnh, “nỗi hàn ôn” là nỗi niềm tâm sự. Người lữ thứ trong chiều tha hương thấy mình bơ vơ nơi xa xôi, nỗi buồn thương không sao kể xiết “Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?”. “Chiều hôm nhớ nhà” và “Qua Đèo Ngang” hai kiệt tác thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Đó là chùm thơ của Bà Huyện Thanh Quan sáng tác trong những tháng ngày nữ sĩ trên đường thiên lí vào kinh đô Huế nhận chức nữ quan trong triều Nguyễn. Có thể coi đó là những bút kí – thơ vô cùng độc đáo. Thơ của Bà Huyện Thanh Quan thấm một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ, hay nói đến hoàng hôn, lời thơ trang nhã, sử dụng nhiều từ Hán Việt bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông, viễn phố… tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính, nhạc điệu trầm bổng hấp dẫn. “Chiều hôm nhớ nhà” là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình thương nhớ, bâng khuâng,… Mẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Tiêu Biểu “Nhớ nước” – “thương nhà” là hai dòng tình cảm sâu sắc của Bà Huyện Thanh Quan. “Nhớ nước”, bà có bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ”, “thương nhà”, bà có bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà”. Dưới triều Tự Đức, bà được mời về kinh nhậm chức Cung trung giáo tập để dạy các công chúa, cung phi. Sống trong cung đình, nhưng bà tự coi mình như kẻ “lữ thứ”, tấm lòng của bà luôn luôn hướng về chốn “Chương Đài”. Tâm sự “thương nhà” của bà được diễn tả một cách tài hoa trong bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà” “Chiều trời hảng lảng hóng hoàng hôn…..Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?”. Bà Huyện Thanh Quan đã chọn luật bằng vần bằng cho bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà” Bài “Thăng Long thành hoài cổ” là luật trắc vần bằng hợp với điệu hoài cảm của tâm hồn thi nhân. Mở đầu bài thơ là hình ảnh buổi hoàng hôn với điệu nhạc chiều êm ái, thổn thức “Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa dưa vẳng trống dồn” Trong cả ba bài thơ nổi tiếng, Bà Huyện Thanh Quan đều nói đến chiều tà. “Bước tới đèo Ngang bóng xé tà”Qua đèo Ngang “Nền củ lâu đài bóng tịch dương”Thăng Long thành hoài cổ “Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn” Từ “bảng lảng” tả ánh sáng buổi hoàng hôn thật là đặc sắc. Cảm nhận về ánh sáng như vậy thật là thi sĩ. “Bảng lảng” là ánh nắng đã nhạt, loãng, yếu ớt của buổi chiều tàn. Ánh nắng hạ xuống thì nhạc chiều nổi lên. Điệu nhạc trầm buồn của tiếng ốc từ xa đưa lại, tiếng trống cũng xa, chỉ nghe văng vẳng nhưng dồn dập thổn thức. Cái tôi trữ tình của thi nhân lặng phía sau hình ảnh và âm thanh. Cái gì nữ sĩ nhìn thấy, gần gũi thì nhạt nhòa, tàn phai. Nữ sĩ lắng nghe, đón nhận những âm vang từ xa, cho nên khúc nhạc chiều trầm buồn đó cũng là khúc nhạc lòng của thi nhân. Nhà thơ mở rộng không gian của buổi hoàng hôn, trở về với những hình ảnh gần gũi thân quen của những người lao động “Gác mái, ngư ông về viễn phốGõ sừng, mục tử lại cô thôn” Bà Huyện Thanh Quan vẫn không thoát khỏi những đề tài “ngư, tiều, canh, mục” quen thuộc trong thơ cổ điển nhưng bà vẫn có sáng tạo riêng. Bà chỉ chọn hai nhân vật cho buổi “chiều hôm” là “ngư ông” và “mục tử’. Nét linh hoạt của câu thơ là ở những cử chỉ của nhân vật. Hai cử chỉ nghịch nhau mà lại cùng diễn tả một ý tưởng. “Gác mái” là ngư ông nghỉ ngơi, đảo vị ngữ “Gác mái” càng nhấn mạnh sự nghỉ ngơi thư thái của ngư ông. “Gõ sừng” cũng được đảo ra phía trước để nhân mạnh cử động của mục tử người chăn trâu nhưng là cử động trở về, nghỉ ngơi. Nhưng cả ngư ông và mục tử trên đường trở về đều có khoảng cách “ngư ông về viễn phố”, ngư ông về bến xa, “mục tử lại cô thôn”, người chăn trâu về xóm lẻ loi. Khoảng cách ấy cũng là khoảng cách trong lòng thi nhân với quê hương xứ sở của mình, thành ra có ba con người, ngư ông, mục tử và nữ sĩ chẳng gắn bó gì với nhau cả lại cùng giông nhau ở một điểm là chiều hôm, mỗi người đều hướng về nơi chôn thân yêu của mình. Tóm lại, hai câu thực đã thể hiện một cách tài hoa chủ đề chiều hôm nhớ nhà. Chuyển sang hai câu luận, không gian thơ được mở lên chiều cao với những hoạt động của thiên nhiên trong buổi chiều hôm “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương sa khách bước dồn” Hình ảnh thật đẹp, thật gợi cảm. Nhà thơ đã chọn được những tín hiệu thẩm mĩ có khả năng diễn tả tâm tình của thi nhân. Hình ảnh “ngàn mai gió cuốn” vừa rộng lớn, thoáng, vừa sôi động. Rừng mai bạt ngàn càng thấy sự lẻ loi đơn chiếc của thi nhân, hình ảnh “gió cuốn” gợi sự xao động bên trong của nữ sĩ. Hình ảnh cánh chim chiều “bay mỏi” cũng gợi tâm trạng của thi nhân. Làm sao giữa không gian bạt ngàn của rừng mai mà nhận ra “chim bay mỏi”? Phải có con mắt rất tinh, nhưng như thế vẫn chưa đủ, phải là con mắt của tấm lòng. Còn “dặm liễu” thì thơ mộng mà “dặm liễu sương sa” thì vừa thơ mộng vừa lạnh lẽo. Cái lạnh của sương chiều đã thúc bước chân của người đi đường “khách bước dồn”. Cái hay của hai câu luận là không gian được mở ra với những hình ảnh đẹp, thơ mộng, gợi cảm và chủ đề Chiều hôm nhớ nhà cũng mở ra đến chiều sâu thẳm. Chỉ tiếc là từ “dồn” bước dồn trong câu luận đã lặp lại từ “dồn” trông dồn trong câu thừa đề khiến cho bài thơ nghèo đi một chút. Dòng tình cảm ngầm chảy suốt qua các hình ảnh và nhạc điệu đến đây lộ ra tha thiết, nồng nàn “Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn?” Nữ sĩ dùng những từ phiếm chỉ như “kẻ”, “người”, “ai” vừa thuận với thi pháp “phi ngã” không có cái tôi thời bấy giờ mà cũng vừa hợp với tâm tình của thi nhân, tha thiết nhưng không ủy mị người trí mài, nồng nàn nhưng vẫn e ấp. “Kẻ chốn Chương Đài” là tác giả dùng điển cố. Xưa có người gửi thư về cho vợ là Liễu Thị hỏi “Cây liễu Chương Đài xanh xanh trước kia nay còn không?”. Và từ đó “Chương Đài” thành ước lệ quê nhà trong văn chương. “Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ” là kẻ ở quê nhà, người ở quán trọ lữ thứ xa xôi cách trở. Nữ sĩ dùng chữ “lữ thứ” thật bất ngờ. Bà đang dạy học cho các công chúa và cung phi trong cung vua, còn đâu hoa lệ và sang trọng hơn? Vậy mà nữ sĩ coi đấy cũng chẳng qua là quán trọ. Tác giả dùng từ Hán Việt “lữ thứ” phần nào trung hòa được tinh thần ngạo mạn của bà. Cho nên trong sâu thẳm tình cảm nhớ nhà của bà là tình nhớ nước. Bà chẳng tha thiết, chẳng gắn bó gì với triều đại đương thời, nữ sĩ cảm thấy như bị lưu đày nơi đất khách quê người. Và câu hỏi tu từ “Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?” càng trào dâng lên nỗi nhớ nhà của kẻ “lữ thứ”. Bài thơ “Chiều hôm nhớ nhà” được Bà Huyện Thanh Quan viết theo bút pháp tả cảnh gợi tình quen thuộc trong thơ cổ điển. Từng bình ảnh, từng âm thanh đều gợi đến tâm trạng nhớ nhà của nữ sĩ. Nỗi nhớ nhà của nữ sĩ thật là thâm trầm, sâu sắc, nhân bản. T rong quan hệ xã hội, bà không được chia sẻ, sống với một triều đại mà bà chỉ hướng về ánh hào quang của quá khứ, “một mảnh tình riêng ta với ta” Qua đèo Ngang nên bà dồn tình cảm nhớ thương cho gia đình, cho những người thân yêu. Trước tình trạng lỏng lẻo của những môi quan hệ gia đình hiện nay thì một tiếng thơ cũng là tiếng lòng của Bà Huyện Thanh Quan cũng có giá trị tinh thần nhân bản, cao quý của gia đình. Mẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Hôm Nhớ Nhà Hay Sâu Sắc Trong nền văn học Việt Nam trung đại, số nữ sĩ còn đứng lại với thời gian không phải là nhiều. Chúng ta thường nhắc đến 3 gương mặt tiêu biểu là Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương và Bà huyện Thanh Quan. Ba nữ sĩ này, mỗi người một vẻ, mỗi người có một đóng góp riêng cho thơ văn nước nhà. Trong 3 nữ sĩ đó, Bà huyện Thanh Quan khiêm nhường đứng riêng một chiếu với chùm thơ khoảng 5 – 6 bài có bài vẫn còn gây tranh cãi, bị xem là của nhà thơ khác trong đó thường được nhắc đến hơn cả là bài thơ Chiều hôm nhớ nhà. Bài thơ Nôm Đường luật này diễn tả nỗi nhớ nhà của người nữ sĩ khi cô đơn thân gái dặm trường. Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn….Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn? Bài thơ đưa chúng ta vào một không – thời gian tưởng như cụ thể nhưng lại khá mơ hồ. Thời điểm “trời chiều” được cụ thể hoá trong sự “bảng lảng” của “bóng hoàng hôn” mang đến cho ta một buổi chiều như bao buổi chiều khác trong thơ ca xưa. Có nỗi nhớ của người con xa quê Chiều chiều ra đứng ngõ sauTrông về quê mẹ ruột đau chín chiềuCa dao Buồn trông cửa bề chiều hômThuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xaTruyện Kiều Câu phá đề gợi cho ta một cảm giác mệt mỏi và chậm rãi của thời gian ban chiều, một thời điểm mang tính ám ảnh văn hoá trong thơ xưa. Câu thơ bắt đầu bằng “trời chiều” và khép lại bằng “bóng hoàng hôn” như muốn hắt cả ánh vàng của nắng chiều lên con người và cảnh vật. Thời điểm chiều hôm là lúc con người trở về sum họp, quây quần cùng gia đình nhưng dường như nhân vật trữ tình trong bài thơ vẫn tạm nghỉ chân trên hành trình xa xôi và vắng vẻ. Ở không gian đó con người có thể nghe thấy “tiếng ốc xa đưa” và tiếng “vẳng trống đồn”. Những âm thanh này vốn không xa lạ nhưng khi đặt vào khung cảnh đất khách quê người thì lại gợi lên sự bâng khuâng, se buồn trong lòng người lữ khách. Hai âm thanh đan quyện vào nhau như muốn báo hiệu sự vội vã của thời gian đang đổ dần về tối. Thời điểm “trời chiều” cùng sự báo hiệu của tiếng ốc và tiếng trống sẽ làm nền cho hai câu thực Gác mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thôn Đến hai câu thơ này ta mới thấy hiện ra một cách rõ nét hơn những mã nghệ thuật của thơ ca nhà nho xưa dù Nguyễn Thị Hinh có là một nữ sĩ nhưng khi sáng tác bà vẫn chịu ảnh hưởng của quan niệm văn học Nho gia. Xuân Diệu đã từng gọi bà là “Bà chúa hoàng hôn”. Đọc hai câu thực chúng ta sẽ cảm nhận rõ hơn lời khen ngợi của “nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ mới”. Vẫn là hình tượng quen thuộc của ngư ông và mục tử trong bộ tứ “ngư – tiều – canh – mục” trong thơ xưa, vẫn là động tác “gác mái”, “gõ sừng” ấy gắn liền với hai biểu tượng này. Nó nhắc ta nhớ tới những câu thơ như Ngư lão buông câu ngồi mép bếnMục đồng té nước tắm đầu sông hay Viễn tự chung thanh thôi khách bộMục đồng xung địch dẫn ngưu qui Nhà nho xưa quan niệm giống nhau về một cuộc sống thanh sạch gắn với nông thôn và thiên nhiên trong các nghề ngư – tiều – canh – mục. Đó là những hình ảnh đẹp mãi có sức cuốn hút đối với họ. Nó mang âm hưởng từ những vần thơ từ xa lắm, tận thời Đường ở bên Tàu với những Cô chu soa lạp ôngĐộc điếu hàn giang tuyếtLiễu Tông Nguyên hay Tá vấn tửu gia hà xứ hữuMục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thônĐỗ Mục Tuy nhiên giữa mảng lưới văn hoá đầy hình tượng, điển tích đó cái còn lại của Thanh Quan là gì? Đó có phải là cách dùng những từ Hán Việt “ngư ông”, “viễn phố”, “mục đồng”, “cô thôn” tạo cho bài thơ sự trang trọng và cổ kính đầy hấp dẫn? Điều này chỉ đúng một phần. Cái còn lại của dòng thơ, dấu ấn của Thanh Quan chính là ở hai tiếng “cô”, “viễn” tưởng như vô tình nhà thơ đặt theo niêm luật đăng đối ở tiếng thứ 6 của hai câu thực. Nhà thơ đâu có biết “ngư ông” và “mục tử” nghĩ gì và cũng đâu có biết họ đi về đâu. Với cái nhìn đầy màu sắc chủ quan, nhân vật trữ tình đã phổ cảm xúc của mình vào hai hình tượng đó. Con người lẻ loi trên hành trình thiên lý tự dưng lại cảm nhận về cảnh vật quanh mình như cảm nhận về thân phận của mình, thấy chúng cũng trở nên “cô”, “viễn” như thường. Chúng ta lại nhớ tới cảm xúc của người chinh phụ cô đơn ngồi trong đêm vắng tủi buồn với cả trăng – hoa vô tri, vô giác Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấmNguyệt lồng hoa hoa thắm từng bôngNguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùngTrước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau. Dấu ấn chủ quan của nhân vật trữ tình thoáng hiện ra rồi lại chìm khuất đi giữa mịt mù thiên nhiên Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương sa khách bước dồn Sự tương phản trong bức tranh thơ gợi lên một chút gì nhỏ nhoi mà yếu đuối của cánh chim và hình ảnh người khách giữa chiều tà. Vẫn là “ngàn mai” ấy, ngàn mai từng nở trắng trong thơ xưa Tuyết mai trắng bãi, phù dung đỏ bờ – Chinh phụ ngâm nhưng đặt cạnh hình ảnh “gió cuốn” đã gợi lên sự rộng lớn của không gian như muốn nuốt chìm cánh chim nhỏ nhoi vào trong đó, như cánh “chim hôm thoi thót về rừng” trong Truyện Kiều và xa hơn nữa là hình ảnh Chúng điểu cao phi tậnCô vân độc khứ nhàn Trong thơ Lí Bạch xưa. Con người luôn thấy nhỏ bé trước thiên nhiên. Đứng trước thiên nhiên, người xưa muốn mình là một tiểu vũ trụ cố gắng hoà hợp và cả hoà tan vào trong đại khối, đại vũ trụ vô cùng đang bao bọc quanh mình. Người “khách” đang “bước dồn” qua “dặm liễu” kia liệu lòng có còn thôi ám ảnh về Tóc ai trao chửa bạc màuLiễu ai bẻ tặng bên cầu còn tươiNguyễn Bính Ở chốn quê nhà, nơi ly biệt, lưu luyến người thân mà “Tiễn đưa một chén quan hà, Xuân đình thoắt đã dạo ra Cao đình” Truyện Kiều. Con người – nhân vật trữ tình hay là một dạng phân thân của hình tượng này “khách” – như muốn giấu mình đi. Đó là đặc trưng phi ngã, vô ngã của thơ ca trung đại. Con người không xuất hiện trong vai trò cá nhân. Nó chỉ thể hiện mình trong các mối quan hệ cộng đồng, làng xóm, họ mạc, gia đình. Hay trở thành “Càn khôn nhất hủ nho” hoặc “Giang Hán tư quy khách” trong thơ Đỗ Phủ. Sự đơn chiếc, cô lẻ đã thấm sâu trong nó một nỗi buồn khôn tả. Nhịp “bước dồn” chỉ là vẻ bề ngoài che đi nỗi lòng nặng trĩu ưu tư của nhân vật trữ tình. Tình cảm được dồn nén và bật ra thành câu hỏi Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn? Thơ ca nhà nho xưa thường hướng tới các vấn đề thế sự, đạo lý, hay than thở về thế đạo nhân tâm, tránh nói đến tình cảm cá nhân riêng tư trong đời sống thường ngày. Tuy nhiên thơ ca nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX mang trong nó sắc thái chủ tình rõ rệt, chủ trương bày tỏ những cảm xúc vốn bị đạo đức Nho giáo chế ngự bấy lâu nay. Có lẽ tiếng nói tiền khu mang tính tiên phong của Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương đã là tiền đề cho hai câu kết này. Qua điển tích “Chương Đài” cùng cặp đại từ nhân xưng “người – kẻ” chúng ta có thể thấy người mà nhân vật trữ tình hướng tới là nửa kia của mình. Câu chuyện về bài thơ “Chương Đài liễu, Chương Đài liễu – Tích nhật thanh thanh kim tại phủ? – Túng sử trường điều tự cựu thuỳ – Giả ưng phan chiết tha nhân thủ” còn đó như minh chứng cho khao khát đoàn viên, sống trong hạnh phúc lứa đôi của người lữ thứ. Chính vì cảnh lữ thứ mà khát khao mong gặp người chia sẻ, “kể nỗi hàn ôn” càng da diết hơn. Nhu cầu sẻ chia đó vẫn thường trực trong mỗi con người tự ngàn xưa. Bài thơ gói gọn trong thể Đường luật thất ngôn bát cú nhưng nó đã nói được tiếng lòng của người nữ sĩ. Cảm giác nhớ nhà của con người khi “Lòng còn gửi áng mây vàng” Truyện Kiều là điều dễ hiểu. Trong không gian tha hương thời trung đại, con người thấy lẻ loi, yếu đuối khi bị bứt ra khỏi không gian quê nhà quen thuộc nên chỉ ra khỏi nhà mười dặm đã có cảm giác “lữ thứ, hoàng hoa” là thế. Đó không chỉ là một mã nghệ thuật mà còn phản ánh một phần sự thực của tâm trạng con người. Xem thêm 🍃Bánh Trôi Nước [Hồ Xuân Hương]🍃 Nội Dung Bài Thơ, Phân Tích
Trong làng thơ Việt Nam, có những nữ sĩ để lại cho thơ ca dân tộc những dấu ấn đẹp. Nếu thơ Hồ Xuân Hương tài ba, ngạo mạn thì thơ bà Huyện Thanh Quan lại trang nhã, trữ tình và duyên dáng. Đọc thơ bà, ta thấy nỗi buồn man mác, tâm trạng hoài cổ thật thanh cao đượm sự cô đơn, trống vắng. Một trong những bài thơ đó là tác phẩm Chiều hôm nhớ nhà. Tìm hiểu bài thơ ta sẽ thấy tài thơ điêu luyện của Bà Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Gác mái, ngư ông về viễn phố Gõ sừng, mục tử lại cô thôn Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn Ở hai câu đề, khoảng thời gian là trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn. Ánh sáng vẫn còn đó, nhưng chỉ còn là ánh lờ mờ của ngày tàn và đêm sắp tới. Câu thơ chỉ giới thiệu thời gian mà người đọc như cảm thấy cả không gian một vùng quê rộng lớn. Trước thiên nhiên ấy, giữa trời và đất, có một cái gì đó tràn ngập con người nhạy cảm. Buổi chiều là thời gian dễ buồn nhất và đó cũng là khoảng thời gian thường xuất hiện trong thơ của bà Huyện Thanh Quan. Con người trong cuộc sống hỗn độn, ồn ào vẫn có một lúc nào đó trở về với cái bình yên muôn thuở của thiên nhiên, về với chính lòng mình. Và lúc này chính là khoảnh khắc đó của nữ sĩ. Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Âm thanh từ xa vẳng đến như thúc giục, nhưng vẫn có cái trầm lặng trong đó báo hiệu cho mọi người ngày sắp hết. Ta như gặp một nét thân quen, man mác của câu ca dao Chiều chiều ra đứng ngõ sau Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều. Tâm trạng của tác giả đã phần nào được ngầm hiểu trong cách lựa chọn thời gian, không khí và thanh âm. Trong cảnh chiều, trong tiếng gọi tàn ngày đó, con người hiện ra Gác mái, ngư ông về viễn phố Gõ sừng, mục tử lại cô thôn. Câu thơ với nhịp 2/5 làm cho ta có cảm giác hoạt động con người đang giảm dần, đang đi tới kết thúc. Phép đối rất chuẩn cùng với những từ Hán Việt đã góp phần tạo nên vẻ trang nhã, cổ kính của hai câu thơ gợi tả này. Trước cảnh thiên nhiên to lớn, con người thật nhỏ, yếu thế và có phần đơn độc. Đó cũng là đặc điểm của thơ Thanh Quan. Gặp cảnh và người ở đây ta không thể không liên tưởng đến cảnh và người. Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà Trong Qua đèo Ngang của cùng tác giả, cảnh và người đều vậy lặng lẽ, đượm buồn. Ta có cảm giác nhà thơ cũng đang lặng lẽ, thẩn thờ. Và con đường trước mắt bà thì sao, hai câu luận đã vẽ ra khung cảnh Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Khoảng đường trước mắt như vô tận. Chim bay mỏi mà chưa tới nơi, khách bước dồn mà chưa tới chốn. Con đường đi hay con đường đời đang dàn trải? Phép đối từng cặp hình ảnh ngàn mây dặm liễu, gió cuốn - sương sa, chim bay mỏi - khách bước dồn làm ý thêm nhấn mạnh. Những từ ngữ bước dồn, bay mỏi cho thấy tâm trạng chán chường, mỏi mệt của nhà thơ. Tâm trạng ấy tất dẫn đến hai câu thơ kết thúc Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn Không có ai để tâm sự, trời đất thì bao la, vắng lặng, trống trải, khiến tác giả quay về với nội tâm, với lòng buồn sẵn có của mình. Câu thơ cuối, vừa như một câu cảm, vừa như một câu hỏi. Ta đã từng bắt gặp những câu thơ tài ba đó trong thơ bà Dừng chân đứng lại, trời non nước Một mảnh tình riêng, ta với ta Qua đèo Ngang Và Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường Thăng Long hoài cổ Qua đó, ta càng hiểu được nỗi niềm tâm sự của tác giả. Mang tiếng nói của tầng lớp quý tộc phong kiến đang trên đường suy thoái, thơ Thanh Quan biểu hiện một khía cạnh tư tưởng của văn chương thế kỉ 18 - 19, phản ánh tâm tư của lớp nho sĩ chán nản bế tắc. Tiếng thơ đó cũng biểu hiện tâm trạng hoài cổ, thiết tha nhớ nhà Lê đã suy vi. Phải chăng đó cũng là tâm tình của tập đoàn phong kiến đã hết thời vàng son, hết vai trò lịch sử? Đặt bài thơ của nữ sĩ vào bối cảnh lịch sử như thế, ta có biểu hiện sâu thêm cái buồn trong lòng bà cái buồn thời đại. Thơ bà buồn, nhưng không vì thế mà mất vẻ đẹp gợi cảm. Trái lại, nhờ vậy càng tăng thêm phần đặc sắc. Thơ bà đẹp một cách trầm lặng như chính tâm hồn bà. Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan mãi mãi đưa đến cho chúng ta những cảm xúc chân thành, đậm đà trước nét buồn thanh tao, đưa đến những suy nghĩa sâu xa hơn về con người và xã hội. Một bài thơ đóng lại nhưng còn mở ra, tạo nên một dư âm trong lòng người đọc. Trích
Bài văn mẫu lớp 11Những bài văn mẫu hay lớp 11Văn mẫu lớp 11 Phân tích bài ”Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan được VnDoc sưu tầm và giới thiệu giúp các em học sinh cùng quý thầy cô tham khảo, củng cố kỹ năng cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham tích bài ”Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh QuanAi đã từng đọc "Truyện Kiều" chắc không thể nào quên được câu thơ của Nguyễn Du nói về hoàng hôn“Song sa vò võ phương trời,Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng".Cũng nói về hoàng hôn và nỗi buồn của kẻ tha hương, bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của Bà Huyện Thanh Quan là một kiệt tác của nền thơ Nôm Việt Nam trong thế kỉ XIX"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,Tiếng ốc xa đưa vẳng trống mái, ngư ông về viễn phố,Gõ sừng, mục tử lại cô mai gió cuốn chim bay mỏi,Dặm liễu sương sa khách bước chốn Chương Đài, người lữ thứ,Lấy ai mà kể nổi hàn ôn?".Câu thơ đầu tả ánh hoàng hôn một buổi chiều viễn xứ. Hai chữ "bảng lảng" có giá trị tạo hình đặc sắc ánh sáng lờ mờ lúc sắp tối, mơ hồ gần xa, tạo cho bức tranh một buổi chiều thấm buồn"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn".Hai chữ "bảng lảng" là nhãn tự - như con mắt của câu thơ. Nguyễn Du cũng có lần viết 'Trời tây bảng lảng bóng vàng" Truyện Kiều.Chỉ qua một vần thơ, một câu thơ, một chữ thôi, người đọc cũng cảm nhận được ngòi bút thơ vô cùng điêu luyện của Bà Huyện Thanh với người đi xa, khoảnh khắc hoàng hôn, buồn sao kể hết được? Nỗi buồn ấy lại được nhân lên khi tiếng ốc tù và cùng tiếng trống đồn "xa đưa vẳng" lại. Chiều dài tiếng ốc, chiều cao tiếng trống đồn trên chòi cao của không gian được diễn tả qua các hợp âm ấy, đã gieo vào lòng người lữ khách một nỗi buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái. Câu thơ vừa có ánh sáng bảng lảng vừa có âm thanh tiếng ốc, trống dồn tạo cho cảnh hoàng hôn miền đất lạ mang màu sắc dân dã"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn".Phần thực và phần luận, các thi liệu làm nên cốt cách bài thơ được chọn lựa tinh tế, biểu đạt một hồn thơ giàu cảm xúc. Ngư ông, mục tử, lữ khách... thế giới con người được nói đến. Cảnh vật thì có ngàn mai, có gió và sương, có "chim bay mỏi" ... Những thi liệu ấy mang tính chất ước lệ của thi pháp cổ người thì có ngư, tiều, cảnh vật, cây cỏ, hoa lá thì có phong, sương, mai, liễu, cánh chim chiều... nhưng với tài sáng tạo vô song chọn từ, tạo hình ảnh, đối câu, đối từ, đối thanh, ở phương diện nào, nữ sĩ cũng tỏ rõ một hồn thơ tài hoa, một ngòi bút trang trọng. Vì thế, cảnh vật trở nên có hồn, gần gũi, thân thuộc mang đậm bản sắc dân tà, ngư ông cùng con thuyền nhẹ trôi theo dòng sông về viễn phố bến xa với tâm trạng nhàn hạ, thoải mái. Động từ "gác mái" biểu đạt một tâm thế yên vui của ngư ông đang sống nơi miền quê yên ả, không bị ràng buộc bởi vòng danh lợi"Gác mái, ngư ông về viễn phố".Cùng lúc đó, lũ trẻ đánh trâu về chuồng, trở lại "cô thôn". Cử chỉ "gõ sừng" của mục đồng thể hiện sự hồn nhiên, vô tư, yêu đời"Gõ sừng, mục tử lại cô thôn".Đó là hai nét vẽ vẻ con người tạo nên hai bức tranh tuyệt đẹp nơi thôn dã vô cùng thân thuộc đáng câu luận tiếp theo đã mượn cảnh để tả cái lạnh lẽo, cô liêu, bơ vơ của người lữ khách trên nẻo đường tha hương. Trời sắp tối. Ngàn mai xào xạc trong "gió cuốn" gió mỗi lúc một mạnh. Cánh chim mỏi bay gấp gấp về rừng tìm tổ. Sương sa mịt mù dặm liễu. Và trên con đường sương gió, lạnh lẽo ấy chỉ có một người lữ khách, một mình một bóng đang "bước dồn" tìm nơi nghỉ trọ. Hai hình ảnh "chim bay mỏi" và "khách bước dồn" là hai nét vẽ đăng đối, đặc tả sự mỏi mệt, cô đơn. Con người như bơ vơ, lạc lõng giữa "gió cuốn" và "sương sa", đang sống trong khoảnh khắc sầu cảm, buồn thương ghê gớm. Câu thơ để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Nghệ thuật đảo ngữ làm nổi bật cái bao la của nẻo đường xa miền đất lạ"Ngàn mai, gió cuốn chim bay mỏi,Dặm liễu, sương sa khách bước dồn".Bằng sự trải nghiệm của cuộc đời, đã sống những khoảnh khắc hoàng hôn ở nơi đất khách quê người, nữ sĩ mới viết được những câu thơ tả thực cảnh ngộ lẻ loi của kẻ tha hương có hồn đến thế!Hai câu kết hội tụ, dồn nén lại tình thương nhớ. Nữ sĩ cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Câu thứ bảy gồm hai vế tiểu đối, lời thơ cân xứng đẹp "Kẻ chốn Chương Đài// người lữ thứ. Chương Đài là điển tích nói về chuyện li biệt, nhớ thương, tan hợp của lứa đôi Hàn Hoành và Liễu thị đời nhà Hán xa xưa. Bà Huyện Thanh Quan đã vận dụng điển tích ấy một cách sáng tạo. "Chương Đài" và "lữ thứ' trong văn cảnh gợi ra một trường liên tưởng về nỗi buồn li biệt của khách đi xa nhớ nhà, nhớ quê hương da diết. Khép lại bài thơ là một tiếng than giãi bày một niềm tâm sự được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ. "Ai" là đại từ phiếm chỉ, nhưng ai cũng biết đó là chồng, con, những người thân thương của nữ sĩ. "Hàn ôn" là nóng lạnh; "nỗi hàn ôn" là nổi niềm tâm sự. Người lữ thứ trong chiều tha hương ấy thấy mình bơ vơ nơi xa xôi, nỗi buồn thương không sao kể xiết"Kẽ chốn Chương Đài, người lữ thứ,Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?"."Chiều hôm nhớ nhà" và "Qua Đèo Ngang" hai kiệt tác thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Đó là chùm thơ của Bà Huyện Thanh Quan sáng tác trong những tháng ngày nữ sĩ trên đường thiên lí vào Kinh đô Huế nhận chức nữ quan trong triều Nguyễn. Có thể coi đó là những bút kí bằng thơ vô cùng độc đáo. Thơ của Bà Huyện Thanh Quan thấm một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ, hay nói đến hoàng hôn, lời thơ trang nhã, sử dụng nhiều từ Hán-Việt bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông, viễn phố... tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính, nhạc điệu trầm bổng hấp dẫn. "Chiều hôm nhớ nhà" là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình thương nhớ, bâng khuâng....-Trên đây VnDoc hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 11 Phân tích bài ”Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan. Chắc hẳn qua bài viết bạn đọc đã nắm được những ý chính cũng như trau dồi được nội dung kiến thức của bài viết rồi đúng không ạ? Bài viết đã gửi tới bạn đọc dàn ý và các bài văn mẫu. Hi vọng qua bài viết này bạn đọc có thêm nhiều tài liệu để học tập tốt hơn nhé. Ngoài ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 11 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn tiếp theo Một số thanh niên hiện nay vẫn cho rằng “Chỉ có tiền tài và địa vị thì mới có hạnh phúc”. Hãy dùng lập luận bác bỏ để phản bác tư tưởng đóHãy bàn luận ý kiến sau đây “Học trò phải kính yêu và biết ơn thầy, cô giáo"Nhiều ý kiến cho rằng chữ “hồng” là nhãn tự bài thơ Mộ Chiều tối của Hồ Chí Minh
Tất cả Lớp 12 Lớp 11 Lớp 10 Lớp 9 Lớp 8 Lớp 7 Lớp 6 Lớp 5 Lớp 4 Lớp 3 Lớp 2 Lớp 1 Cho bài thơ sau và trả lời câu hỏi + Giải thích nghĩa của các từ đó."Chiều hôm nhớ nhàChiều chiều bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống đềnGác mái ngư ông vào viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mai gió cuốn chim bay mỏiDẵm liệu sương sa khách bước dồnKẻ trốn Trương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn." Đề bài Tìm từ Hán Việt trong bài thơ sau. Em hiểu nghĩa của các từ đó như thế nào? Theo em các từ Hán Việt sẽ đem đến cho bài thơ một không khí như thế nào? Chiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẫn trống dồnGác mái ngư ông về Viễn PhúGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mây gió cuốn chim bay mỏiDăm liễu sương sa khách bước dồnKế chốn Chương Đài người Lữ thứ Từ Hán Việt hoàng hôn,xa, ngư ông, viễn phố, mục tử, cô thôn, mai, liễu, sương, khách, Chương Đài, lữ thứ, hàn Hán Việt đem lại sắc thái trang trọng , sắc thái tao nhã, sắc thái khái quát và trừu tượng , sắc thái cổ . Chúc bn học tốt !!! Đề bài Tìm từ Hán Việt trong bài thơ sau. Em hiểu nghĩa của các từ đó như thế nào? Theo em các từ Hán Việt sẽ đem đến cho bài thơ một không khí như thế nào? Chiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẫn trống dồnGác mái ngư ông về Viễn PhúGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mây gió cuốn chim bay mỏiDăm liễu sương sa khách bước dồnKế chốn Chương Đài người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn mk vs nha mọi người. Thanks mọi người nhìu!!! Từ Hán Việt bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông, viễn phố , cô thôn , mục tử_Từ Hán -Việt sẽ đem đến cho bài thơ 1 ko khí + Sắc thái trang trọng+ Sắc thái tao nhã+ Sắc thái khái quát và trừu tượng+ Sắc thái cổ Đề bài Tìm từ Hán Việt trong bài thơ sau. Em hiểu nghĩa của các từ đó như thế nào? Theo em các từ Hán Việt sẽ đem đến cho bài thơ một không khí như thế nào? Chiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẫn trống dồnGác mái ngư ông về Viễn PhúGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mây gió cuốn chim bay mỏiDăm liễu sương sa khách bước dồnKế chốn Chương Đài người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn mk vs nha mọi người. Thanks mọi người nhìu!!! Theo mình thì cậu tìm từ nào thuộc Ấn Âu thì loại nó ra , còn nhiêu là từ Hán ViệtMình không chắc , xin lỗiChúc bạn học tốt ! Đề bài Tìm từ Hán Việt trong bài thơ sau. Em hiểu nghĩa của các từ đó như thế nào? Theo em các từ Hán Việt sẽ đem đến cho bài thơ một không khí như thế nào? Chiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẫn trống dồnGác mái ngư ông về Viễn PhúGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mây gió cuốn chim bay mỏiDăm liễu sương sa khách bước dồnKế chốn Chương Đài người lữ thứGiúp mk vs nha mọi người. Thanks mọi người nhìu!!! Hãy giải thích nghĩa của các từ gạch chân. Các từ Hán Việt tạo sắc thái gì cho bài trời bảng lảng bóng Hoàng hônTiếng ốc xa đưa lẩn trống đồn Gác mái ngư ông ngư về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mai giờ cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương xa cách bước đồnKẻ chốn Chương Đài người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn. hoàng hônkhoảng thời gian mặt trời mới lặn,ánh sáng yếu ớt và mờ dần-ngư ôngngười đàn ông làm nghề đánh cálữ thứxa quê-hàn ônrét và ấmchuyện hàn ôn là chuyện lúc gặp nhau kể lể tin tức thân mật CHIỀU HÔM NHỚ NHÀTrời chiều bảng lảng bóng hoàng ốc xa đưa vẳng trống mái, ngư ông về viễn sừng mục từ lại cô mai gió cuốn chim bay liễu sương sa khách bước chốn Chương Đài, người lữ ai mà kể nỗi hàn ôn?Chiều hôm nhớ nhà là một đề tài quen thuộc, được nói đến trong nhiều bài thơ nổi tiếng như Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu, Ngắm cảnh chiều ở Hán Dương của Nguyễn Du. Nhưng với Bà Huyện Thanh Quan, chủ đề đó đã được ghi dấu ấn đậm nét bằng một phong cách sử dụng từ Hán đầu bài thơ, nhà thơ lựa chọn những tín hiệu thẩm mỹ đặc trưng của thời gian chiều tà hoàng hôn của thiên nhiên và hoàng hôn của cuộc sống con người. Từ hoàng hôn không chỉ để thông báo khoảng thời gian chen lấn giữa đêm và ngày mà nó còn tạo nên cảm giác về một thiên nhiên vắng vẻ và buồn. Cuộc sống của con người được tác giả ghi lại bằng hai chi tiết của cảnh chiềuGác mái ngư ông về viễn sừng mục tử lại cô điệu câu thơ chậm rãi, ngắt thành 3 nhịp Gác mái/ ngư ông/ về viễn phố - Gõ sừng/mục tử/ lại cô thôn. Sự đối xứng giữa các từ ngữ, hình ảnh làm cho cảnh sinh hoạt ở đây có sự vận động nhưng vẫn man mác buồn. Cái hay của bài thơ là ở chỗ từ hình ảnh quen thuộc của ông lão đánh cá và trẻ chăn trâu, nơi bến xa, thôn vắng đã được tác giả sử dụng bằng những từ Hán Việt trang trọng ngư ông, viễn phố, cô thôn, tạo nên không khí tĩnh lặng, cảnh chiều thêm tĩnh mịch và ẩn chứa một nỗi niềm man mác, bâng khuâng của lòng người. Trong cảnh thiên nhiên buồn vắng đó xuất hiện hình ảnh của con ngườiNgàn mai gió cuốn chim bay liễu sương sa khách bước cánh chim vội vã cố gắng bay về rừng tìm chốn ngủ, khách bộ hành cũng bước gấp về nơi trú ngụ. Hai câu thơ cũng đối rất tề chỉnh ngàn mai/ dặm liễu, gió cuốn/ sương sa. Sự đối xứng này làm nổi bật lên nỗi mệt nhọc và sự cố gắng trong cảnh chiều lặng lẽ của khách đường xa. Thông thường cảnh chiều gợi lên hình ảnh hứa hẹn sự sum họp, đầm ấm, nhưng trong bài thơ, tác giả sử dụng các từ Hán Việt ngàn mai, dặm liễu gợi lên cảm xúc xa xôi, buồn vắng, đơn chiếc. Trong hoàn cảnh đó, tâm trạng con người bộc lộ một cách rõ rệtKẻ chốn Chương Đài, người lữ ai mà kể nỗi hàn ôn?Kẻ và người đều là những đại từ phiếm chỉ, chủ thể trữ tình được ẩn chứa đằng sau nó. Tuy nhiên, qua đây ta có thể nhận thức được về chủ thể trữ tình – nhà thơ đang trong cảnh sinh ly, bao trùm tất cả là nỗi buồn sinh ly. Và nỗi buồn sinh ly đó được tạo nên bởi từ Hán Việt lữ thứ. Chỉ có những người đi xa sống nơi đất khách quê người mới rơi vào tâm trạng cô đơn buồn vắng như vậy. Kết thúc bài thơ là câu thơ thể hiện nỗi khao khát được tâm sự, giải bày. Biết ai hiểu cho nỗi lạnh ấm của lòng người, của nhân tình thế thái. Bài thơ tả cảnh ngụ tình, từ việc tả cảnh chiều muộn ở nơi xa, tác giả thể hiện nỗi nhớ quê nhà và nỗi niềm trắc ẩn trước nhân tình thế thái, không người tri âm tri kỷ. Tất cả được giãi bày qua những vần thơ trữ tình buồn man mác. Cái độc đáo của bài thơ là nữ thi sĩ đã sử dụng rất thành công hệ thống các từ Hán Việt, làm cho bài thơ trở nên trang nhã, thanh tao mà sâu phê bình Phan Ngọc nhận xét “... Bà Huyện Thanh Quan trong bài Chiều hôm nhớ nhà đã đẩy lùi bức tranh vào thế giới của tâm tưởng, của ý niệm... Các từ Hán Việt nữ thi sĩ dùng đẩy ta vào thế giới muôn đời. Trên đời chỉ có những ông chài, những thôn vắng, những kẻ chăn châu, những bến xa, những người ở đài cao, những người khách trọ, cảnh lạnh ấm của cuộc đời. Làm gì có những ngư ông, những viễn phố, những mục tử, những cô thôn? Làm gì có trang đài, người lữ thứ, nỗi hàn ôn? Không những thế, các từ Hán Việt đều đặt vào vị trí quyết định giá trị câu thơ câu cuối vần để gây tiếng vọng trong tâm hồn ta. Cuối nhịp ở âm tiết 4 để bắt người ta dừng lại ở đây... Nghệ thuật là sự lựa chọn cực kỳ công phu. Bằng cách này, bà Huyện Thanh Quan kéo ta về với cõi vĩnh viễn của ý niệm và nỗi u hoài của nhà thơ, của cái kiếp người không biết đến tháng năm, thời đại, không có sự cách biệt giữa tôi và anh...” Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt – NXB Đà Nẵng 1991, trang 52,53.Đề tài hoài cổ, cảm hứng hoài niệm về một thời đại huy hoàng đã đi qua đã được bà Huyện Thanh Quan thể hiện qua bài Thăng Long thành hoài cổ với thơ thất ngôn - một trình độ ngôn ngữ tinh tế, điêu luyện, chuẩn xác để miêu tả sự vật, biểu hiện tâm tư. Bài thơ một lần nữa khẳng định phong cách thơ thanh nhã, trang trọng của bà khi tác giả sử dụng thành công một hệ thống từ Hán Việt. Cũng như ở bài thơ Chiều hôm nhớ nhà, ở bài thơ này phần lớn các từ Hán Việt được đặt vào vị trí quyết định giá trị của câu thơ từ cuối câu, để lại những dư âm thấm vào tâm hồn người đọcTạo hóa gây chi cuộc hí trườngĐến nay thấm thoắt mấy tinh sươngLối xưa xe ngựa hồn thu thảo,Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,Nước còn cau mặt với tang năm gương cũ soi kim cổ,Cảnh đấy người đây luống đoạn đầu bài thơ, nhà thơ nêu lên một quan niệm về thế lực siêu nhiên vạn năng. Để thể hiện sự quan trọng đó, tác giả không dùng từ ông trời mà dùng từ tạo hóa. Tạo hóa chi phối nhân sinh thế sự, xoay vần cuộc sống xã hội và số phận con người. Tất cả như luôn biến đổi, luôn bị thay thế như một sân khấu diễn trò, lớp này kế tiếp lớp khác và từ Hán Việt hí trường như khắc đậm thêm điều đó. Thực vậy, thời đại lịch sử mà bà Huyện Thanh Quan sống là thời khủng hoảng suy tàn của chế độ phong kiến. Có thể nói đây là nguyên nhân tạo nguồn cảm hứng hoài cổ nơi bà. Tuy nhiên sự gắn bó của bà với triều đại cũ không sâu sắc và mật thiết như Nguyễn Gia Thiều hay Phạm Thái nên thái độ hoài cổ của bà nhẹ nhàng, thanh thoát hơn. Mặc dù vậy, hai câu mở đầu vừa là câu hỏi vừa là câu tán thán với cách sử dụng thành công từ Hán Việt đã ẩn chứa một nỗi niềm luyến tiếc kín đáo của nhà hai câu thực, nhà thơ thể hiện tài nghệ điêu luyện của mình trong việc lựa chọn từ ngữ kết hợp tài tình từ thuần Việt và Hán Việt trong một hệ thống niêm luật chặt chẽ. Nhà thơ đã khéo léo chọn hai hình tượng không gian, cảnh vật có tính cách đối thêm Thông Tin Lịch Chiếu Ngày Phát Sóng Đấu Phá Thương Khung Phần 5 Bảo Giờ Ra Mắta. Lối xưa xe ngựa / Nền cũ lâu đàib. Hồn thu thảo / Bóng tịch dươngHệ thống a. là hình ảnh của không gian nhân tạo, hệ thống b. là hình ảnh của không gian thiên tạo. Không gian nhân tạo không chống chọi nỗi thời gian và đã thuộc về thời gian quá khứ. Những hình ảnh còn lại chỉ là những tàn dư của một quá khứ hoàng kim. Dưới bước đi mạnh mẽ của thời gian, dường như chỉ có cảnh vật thiên nhiên là có khả năng tồn tại, nhưng đó cũng là sự tồn tại trong tàn tạ bởi trong câu thơ gợi hình ảnh của ngọn cỏ thu và ánh mặt trời. Cỏ thu đã trở thành hồn thu thảo và mặt trời chỉ là bóng tịch dương. Dường như ở các câu thơ này, từ Hán Việt là những nốt nhấn cho ý đồ nghệ thuật của các giả. Các cụm từ Hán Việt đã tạo nên những hình bóng không gian mang màu sắc cô liêu tàn tạ. Sự lựa chọn và kết hợp từ độc đáo trên đã tạo nên sự “hòa âm” giữa quá khứ và hiện hai câu luận, tác giải tiếp tục diễn đạt nỗi niềm hoài cổ trước sự đổi thay qua hình tượng đá trơ gan, nước cau mặt. Đá, nước là biểu tượng của dòng chảy bất tận của vũ trụ và nhân sinh, nhưng ở đây lại mang ý nghĩa phúng dụ cho tâm trạng phủ nhận, chống chọi lại sự đổi thay. Ở hai câu thơ này, nhà thơ lại sử dụng tuế nguyệt, tang thương mang ý nghĩa khái quát rất cao, tạo nên sức gợi cảm cho bài thúc bài thơ là một tiếng thở dài tuy nhẹ nhàng nhưng xuất phát từ tâm canNgàn năm gương cũ soi kim cổ,Cảnh đấy người đây luống đoạn bài Độc Tiểu Thanh ký, Nguyễn Du cũng từng viếtNỗi hờn kim cổ trời khôn hỏiĐể nói về những sự phi lý ở đời như là một quy luật, thì ở trong bài thơ này, với từ Hán Việt kim cổ nhà thơ cũng khái quát lên chuyện hưng phế như là một chân lý ngàn đời không thể thay đổi được. Vì thế, kết thúc bài thơ là một nỗi đau, nỗi bi thương và luyến tiếc về một thời xưa cũ. Đoạn trường là một từ Hán Việt được nhà thơ dùng rất đắt để kết tụ lại nỗi đau vậy, Thăng Long thành hoài cổ là một mẫu mực về nhiều phương diện trong tác phẩm văn học về đề tài hoài cổ. Đặc biệt đề tài hoài cổ cảm hứng hoài niệm về một thời đại huy hoàng đi qua nói trên đã được thể hiện qua một bài thơ thất ngôn ngắn gọn, nhẹ nhàng mà tha thiết. Bài thơ càng trở nên trang trọng hơn khi bà khéo léo kết hợp hệ thống từ Hán Việt ở mỗi dòng thơ để tạo nên âm vang của bài thơ. Nhận xét về bài thơ trên, Tiến sĩ Ngôn ngữ học Hoàng Tất Thắng đã viết “Thăng Long thành hoài cổ là sự hoài cảm về quá khứ, về một thời vàng son đã qua. Hình ảnh trong bài thơ là hình ảnh của ký ức, của tâm tưởng, của những âm vang Hán tự...”.Với những thành công trên Thăng Long thành hoài cổ xứng đáng là một bài thơ hay của thơ ca thời Trung đại Việt thể nói rằng, Chiều hôm nhớ nhà và Thăng Long thành hoài cổ là hai bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của Bà Huyện Thanh Quan - một phong cách trang nhã, lịch lãm và sâu lắng. Đây cũng là những bài thơ hay về đề tài hoài cảm - hoài cổ trong thơ ca Việt Nam Trung đại. Điều làm nên giá trị nổi bật trong thi phẩm của bà được kết tinh bởi nhiều yếu tố mà trong đó phần quan trọng là sự sáng tạo của nhà thơ trong việc sử dụng và kết hợp một cách tài tình hệ thống từ Hán Việt. Thực vậy, yếu tố từ Hán Việt trong hai bài thơ đã thực sự mang lại cho người đọc một sự cảm nhận tinh tế về tình cảm, nỗi niềm, tài năng và nhân cách của bà Huyện Thanh Quan. Điều đáng nói ở đây không phải là sự xuất hiện ít hay nhiều từ Hán Việt trong mỗi bài thơ, mà là cách sử dụng điêu luyện của nhà thơ đã làm nên giá trị nghệ thuật đích thực cho toàn thi hai trăm năm đã trôi qua, vạn vật và con người có biết bao sự đổi thay, nhưng những bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan vẫn còn nguyên vẻ đẹp với sức lay động trong mỗi chúng ta nhờ việc sử dụng lớp từ Hán Việt một cách khéo léo, tài tình mà không phải nhà thơ nào cũng làm được.
bài thơ chiều hôm nhớ nhà